Báo Công lý
Thứ Bảy, 24/8/2019

Hà Nội: Lộ trình thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có nhiều tranh cãi

07/3/2017 17:06 UTC+7
(Công lý) - Trong khi vụ án tranh chấp thành viên của Công ty TNHH Kim Anh đang được TAND TP Hà Nội thụ lý giải quyết, Sở KH&ĐT Hà Nội lại rục rịch kế hoạch thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cấp cho doanh nghiệp lần thứ 5 đang gây nhiều tranh cãi.

Nội dung vụ việc tóm tắt như sau: Ngày 31/10/2012, Công ty TNHH Kim Anh (Công ty) được Phòng đăng ký kinh doanh -  Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội (Phòng ĐKKD) cấp đăng ký thay đổi lần 5 trên cơ sở hồ sơ đề nghị do ông Nguyễn Lương Thế, Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của công ty ký.

Theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần 5 này, ông Đoàn Minh Quân được ghi nhận là thành viên sở hữu 50% vốn điều lệ trên cơ sở các Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp ký ngày 16/10/2012. Theo đó, ông Quân nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Kim Anh (vợ ông Nguyễn Lương Thế) phần vốn tương đương với 45% vốn điều lệ và nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Lương Thế phần vốn tương đương với 5% vốn điều lệ của Công ty. Tuy nhiên, do tại thời điểm ngày 16/10/2012, ông Đoàn Minh Quân đang ở nước ngoài, đã ủy quyền cho bố đẻ là Đoàn Văn Vinh ký thay. 

Hà Nội: Lộ trình thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có nhiều tranh cãi

Công văn của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội

Ngày 08/01/2015, sau gần 3 năm hoạt động và đã hết thời hiệu khiếu nại đối với việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký thay đổi lần 5 cho Công ty, ông Nguyễn Lương Thế ký văn bản đề nghị Phòng ĐKKD thu hồi giấy Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần 5 với lý do hồ sơ bị giả mạo.

Ngày 9/5/2015, Công an thành phố Hà Nội đưa ra kết luận: “Chưa đủ căn cứ kết luận hồ sơ giả mạo”, ngay sau đó Phòng ĐKKD số 2 đã nhiều lần giải quyết khiếu nại và trả lời Công ty bằng nhiều văn bản trả lời chưa có đủ căn cứ là hồ sơ giả mạo để thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần 5 của Công ty TNHH Kim Anh.

Ngày 1/2/2016, Cục Cảnh sát ĐTTP Kinh tế và Tham nhũng (Tổng cục Cảnh sát) có văn bản số 277/C46-P7 gửi Sở KH&ĐT Hà Nội nêu rõ: Việc lập và nộp hồ sơ để xin cấp lại đăng ký kinh doanh lần 5 là do Công ty TNHH Kim Anh và ông Nguyễn Lương Thế - người đại diện theo pháp luật công ty ký các văn bản đề nghị, vì vậy ông Nguyễn Lương Thế là người chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực. Tại hồ sơ thể hiện vợ chồng ông Nguyễn Lương Thế đã trực tiếp ký các thủ tục giao dịch chuyển nhượng với tư cách đại diện bên chuyển nhượng.

Sai sót của ông Đoàn Văn Vinh khi ký hồ sơ nhận chuyển nhượng cũng có trách nhiệm của ông Nguyễn Lương Thế, vì khi ký hồ sơ chuyển nhượng ông Thế đã biết là ông Vinh không ký tên mình, mà ký tên con trai là ông Đoàn Minh Quân.

Việc ông Vinh nhận ủy quyền của con trai nhưng không ký tên mình mà ký tên ông Quân là sai quy định, nhưng việc làm của ông Vinh không có động cơ mục đích vụ lợi cá nhân, không xảy ra tranh chấp về quyền lợi các bên, không làm thay đổi bản chất việc chuyển nhượng.

Vì vậy, Cục Cảnh sát ĐTTP Kinh tế và Tham nhũng kết luận, việc ông Đoàn Văn Vinh ký tên Đoàn Minh Quân trong hồ sơ chỉ là do nhận thức không đầy đủ về pháp luật, không phải là kê khai giả mạo hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Để chặt chẽ, Sở KH&ĐT Hà Nội cần có văn bản đề nghị các bên ký lại các thủ tục giao dịch chuyển cổ phần vốn góp cho đúng tên người nhận chuyển nhượng Đoàn Minh Quân.

Trước đó, ngày 25/01/2016, Sở KH&ĐT Hà Nội cũng đã ban hành Quyết định số 12/QĐ-KH&ĐT về việc giải quyết khiếu nại lần 2 của Công ty TNHH Kim Anh, khẳng định chưa đủ căn cứ để thu hồi ĐKKD lần thứ 5 của Công ty. Quyết định trả lời khiếu nại cũng nêu rõ quyền khởi kiện vụ án hành chính của những người liên quan trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định này. Quyết định số 12/QĐ-KH&ĐT nêu trên đã có hiệu lực pháp luật và không có ai khởi kiện vụ án hành chính trong thời hạn luật định.

Tuy nhiên, ngày 19/10/2016, thành viên Công ty TNHH Kim Anh nhận được Văn bản số 6021/UBND-ĐT của UBND TP Hà Nội, đề nghị Sở KH&ĐT thu hồi Giấy chứng nhận ĐKKD lần thứ 5 đã cấp cho Công ty TNHH Kim Anh.

Phúc đáp văn bản số 6021/UBND-ĐT của UBND TP Hà Nội, ngày 04/11/2016 Sở Kế hoạch và Đầu tư có Báo cáo số 1380/BC-KH&ĐT nêu rõ: “Việc thu hồi Giấy chứng nhận ĐKDN thay đổi lần thứ 5 của Công ty TNHH Kim Anh không thực hiện được do chưa có đủ căn cứ xác định là hồ sơ ĐKDN giả mạo. Việc thu hồi sẽ thực hiện được nếu Tòa án có phán quyết hoặc có bản án có hiệu lực pháp luật....”. Sở này cũng có Công văn số 1248/KHĐT-ĐKKD2 gửi Cục Quản lý ĐKKD- Bộ Kế hoạch và Đầu tư xin hướng dẫn xử lý khiếu nại hồ sơ giả mạo.

Ngày 20/12/2016, Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư có Công văn số 294/ĐKKD-GS nêu quan điểm: “Trường hợp văn bản của cơ quan công an không kết luận nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo thì chưa đủ căn cứ để thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp...”.

Tuy nhiên thực hiện ý kiến chỉ đạo ngày 23/11/2016, của Văn phòng UBND TP Hà Nội tại Văn bản số 11155/VP-ĐT “Đề nghị Sở Kế hoạch và đầu tư  thu hồi Giấy chứng nhận ĐKKD lần thứ 5 đã cấp cho Công ty TNHH Kim Anh”, ngày 22/02/2017, Sở KH&ĐT TP Hà Nội đã ban hành văn bản  số 711/KH&ĐT-ĐKKD gửi UBND TP Hà Nội báo cáo việc sẽ căn cứ vào quy định tại Điều 9 Luật cán bộ, công chức để thực hiện thu hồi Giấy chứng nhận ĐKKD lần thứ 5 đã cấp cho Công ty TNHH Kim Anh.

Theo Điều 9 Luật cán bộ, công chức quy định trong thi hành công vụ, cán bộ công chức có nghĩa vụ: “Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình”.

Đến đây đã bộc lộ một số vướng mắc, đó là vừa có chỉ đạo của UBND thành phố, vừa có chỉ đạo, hướng dẫn của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh về cùng một vấn đề nghiệp vụ, nhưng có nội dung trái ngược nhau, Sở KH&ĐT TP Hà Nội phải có trách nhiệm thực hiện theo chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan nào cho đúng luật?

Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, chuyên gia pháp lý Phạm Tiến Lợi phân vân: "Theo quy định tại Điều 9 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương thì Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên”.

Theo quy định này thì UBND thành phố Hà Nội có quyền chỉ đạo, quản lý Sở KH&ĐT về tổ chức, biên chế và công tác. Nhưng liên quan đến nghiệp vụ đăng ký doanh nghiệp thì Cục Quản lý đăng ký kinh doanh thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư được xác định là cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên của Sở KH&ĐT.

Theo Quyết định số 1899/QĐ-BKH ngày 08/11/2010 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì Cục Quản lý đăng ký kinh doanh là cơ quan ban hành, trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về quy trình chuyên môn, nghiệp vụ...đối với các cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh, cấp huyện; theo dõi, giám sát tình hình thực hiện đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc.

Giữa một bên là cấp quản lý hành chính nhà nước, một bên là quản lý nghiệp vụ, hai bên có quan điểm khác nhau dẫn đến việc xử lý vụ việc này nảy sinh tranh cãi.

Được biết hiện nay TAND TP Hà Nội đã thụ lý “vụ án tranh chấp thành viên Công ty TNHH Kim Anh”.

Khoản 1 Điều 211 về Thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong các trường hợp sau đây:

a) Nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo;

b) Doanh nghiệp do những người bị cấm thành lập doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 18 của Luật này thành lập;

c) Doanh nghiệp ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm mà không thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế;

d) Doanh nghiệp không gửi báo cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 209 của Luật này đến Cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày hết hạn gửi báo cáo hoặc có yêu cầu bằng văn bản;

đ) Trường hợp khác theo quyết định của Tòa án.

 

Nhóm PV

ý kiến của bạn

Sự kiện nổi bật